Nhật ký rong chơi Kalaw, Myanmar - Phần 2

Ngày thứ ba và cũng là ngày cuối cùng tại Kalaw của mình.

Buổi sáng mình dậy sửa soạn xong xuôi mới ra ăn sáng, vì sợ rằng ăn xong lại lề mề khiến mọi người phải đợi. Chỉ có mình và chú ăn sáng, vẫn là bánh mỳ kẹp và trà nóng. Mình chỉ ăn khoảng hai kẹp là no, rồi ngồi uống trà và nhấm kẹo đường cọ. Kẹo này giống kẹo mật mía, nhưng không ngọt bằng, và nghe nói đường cọ tốt hơn đường mía, mình đã nhấm hết nửa lọ kẹo của chú rồi. 

Sáng nay chú bật băng casette, những giai điệu Myanmar vang lên êm ái, bình dị như chính miền đất này. Ngồi thưởng trà, nghe nhạc và tận hưởng buổi sáng cuối cùng ở Camp Kalaw, bên cạnh mình là một khóm hồng đã trổ hoa thắm, trên đầu là tán cây bơ, trước mắt lớp lớp đồi tiếp đồi, cỏ cây mơ màng trong nắng sớm dịu ngọt. Bất giác khoé mắt cay, mình nhớ tới những lúc cảm thấy đơn độc, chán nản và muốn dừng lại. Ừ thì là mình quá yếu đuối, quá rụt rè, tự thu mình rồi lại kêu than về sự cô đơn. Dù thế nào, mình cũng thấy thật may vì đã chọn bước tiếp và tới đây, để được nhận lấy những ngọt ngào vô giá này.

Tầm bảy rưỡi Andrien đến khu bếp ăn, làm tách trà trước khi lên đường. Mình lại lán của chú để lấy pin máy ảnh sạc từ tối qua, và hơi sốc vì sạc cả đêm mà chưa đầy pin. Mình có ba cục pin nhưng đều không đầy pin, thậm chí một cục còn gần cạn.

Mình và chú sửa soạn xong trước, lên đường lớn đợi Andrien. Được một lúc chú nói mình đợi An còn chú đi trước để gặp người dẫn đường, hẹn gặp ở giao lộ (junction). Andrien hôm nay mặc áo phông và khoác ngoài một chiếc áo thổ cẩm màu chàm. Hai đứa đeo khẩu trang vì đường siêu bụi. Tụi mình đi bộ một quãng khá dài, mình không chắc là bao xa, có lẽ một cây số, Andrien sốt ruột hỏi "chú nói với chị là đợi ở đâu?". "Chú chỉ nói hẹn ở giao lộ thôi, nãy giờ cũng chưa có cái ngã rẽ nào mà". Đi thêm chút nữa tới ngã ba, có một quán nước ở đó, nơi chú đang đợi. Chú nói "chú vừa biết một thông tin, hôm nay có lễ hội ở một ngôi chùa gần làng Palaung, chú nghĩ hai đứa tới đó sẽ hay hơn đấy, cứ đi theo đường lớn chừng hai giờ là tới, không cần người dẫn đường, nhưng chú vẫn sẽ đi cùng, để phòng khi Hăm đi bộ mệt".

Cả mình và Andrien đều thống nhất đi tới lễ hội. Trên đường gặp nhiều người dân đi trẩy hội, ăn vận trang phục cầu kì, người thì đi xe máy, nhóm thì đi xe lam. Mỗi lần có xe đi qua là hai đứa lại phải đứng sát rệ đường, quay lưng lại và đợi cho bụi tan. Thi thoảng xe nào có trẻ con, tụi nhỏ thấy thế còn chỉ tay cười nắc nẻ, thiệt tình. Từ giao lộ đi thêm chừng một cây số (mình ước lượng đại khái thôi) thì tới một quán tạp hoá, cũng là ngôi nhà duy nhất trên quãng đường cả cây số vừa rồi. Đó là một ngôi nhà gỗ nhỏ, có một cửa sổ với cánh cửa được chống bởi thanh gỗ vào gờ cửa. Ô cửa này treo bán lủng lẳng những gói bim bim, kẹo bánh, khiến mình liên tưởng đến hàng quán quê mình thuở năm, sáu tuổi. Khoảng sân trước hiên có một giá gỗ để hai chum nước, một chiếc bàn bày mấy rổ cam, trên gờ tường phía sát đường đặt phích nước và khay ấm chén để uống trà. Bên hông ngôi nhà có một cây lớn với tán lá trải rộng phủ bóng mát cho khoảng đất bằng phẳng. Ngay đó, trên khoảng đất trống, cô chủ quán đang đun nước bằng bếp củi. Cô nhiệt tình mời tụi mình uống trà và cho thoải mái ngồi hóng gió nghỉ mệt. Một chiếc xe lam đang đậu trước quán, trẻ con xuống mua đồ ăn vặt, nước ngọt, còn người lớn lựa cam. Một cậu bé nhảy lên nhảy xuống xe mấy lượt liền vì được mọi người trên xe nhờ mua đồ, trẻ con lúc nào cũng hăng hái kiểu đó, em trai mình hồi nhỏ cũng hay xăm xắn đi mua hộ mọi người đủ thứ, cứ nhờ là hăm hở phi đi liền.

Tụi mình tiếp tục lên đường, nhìn chung cảnh quan trên suốt đường đi na ná nhau, sườn đồi trồng cam và chè xanh, lác đác vài ngôi nhà tre, dưới thung lũng thì trồng rau. Cảnh đẹp, nhưng quá nắng và bụi nên nhiều lúc mình chỉ cắm mặt đi chẳng ngắm nghía gì. Nhiều con dốc thoải nhưng dài khiến mình mệt và đi như rùa bò, Andrien cũng đi khá chậm nhưng có lẽ vì đợi mình, không tỏ vẻ khó chịu gì hết, thi thoảng vẫn cười rất hiền, hai đứa duy trì khoảng cách chừng ba mét, chỉ lúc dừng lại chụp ảnh mới nói chuyện.

Chú vẫn đều đặn đứng đợi tụi mình mỗi một, hai cây số hoặc trước những ngã rẽ. Chú còn luôn hỏi có mệt không và động viên mình. Cách chú đối với tụi mình, bình đẳng và thoải mái như bạn bè, lại cũng chăm sóc, yêu thương như con cháu trong nhà. Host của mình thật sự là một người vừa rất ngầu, vừa nhiệt tình, quan tâm mọi người. Có vẻ như chú làm công việc này vì đam mê được kết nối, sẻ chia và trải nghiệm, chứ không vì tiền.

Ngôi chùa nơi tổ chức lễ hội nằm trên đỉnh một ngọn đồi cao, và hầu như có thể nhìn thấy chùa trên suốt hành trình, với kiến trúc hình tháp dát vàng đặc trưng của chùa chiền Myanmar. Nếu mình không nhầm thì ngôi chùa có tên Shweminbone Pagoda, mình đoán vậy dựa theo tấm biển chỉ dẫn trên đường, tấm biển ấy cách chùa khoảng ba, bốn cây số gì đó nên mình cũng không dám chắc. Lễ hội hôm nay là lễ hội truyền thống của người dân Palaung, và gần tới chùa sẽ đi qua ngôi làng của người Palaung, nơi mà hôm qua tụi mình chưa kịp tới. Palaung là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại bang Shan của Myanmar. Họ có có ngôn ngữ, trang phục, văn hoá riêng, và theo đạo Phật. Ngôi làng mình đi qua có hàng chục ngôi nhà nằm gần nhau, rải từ đỉnh xuống khắp triền đồi. Nhà nào cũng nhỏ nhắn, xinh xắn, màu sắc và kích cỡ các ngôi nhà hài hoà, tương đồng nhau. Nhà ở đây đa phần có hai tầng, sơn tường màu trắng, ô cửa sổ màu xanh da trời, mái lợp tôn màu đỏ, xanh biển hay tím pastel. Tụi mình không vào làng mà đi thẳng tới chùa, bởi nghĩ hôm nay lễ hội chắc trong làng cũng không có ai mấy.

Ngay gần chùa có một khu chợ trời, hai đứa cũng vào ngó nghiêng. Đi với Andrien khá thích, vì cậu ấy không vội vàng gấp gáp, không chăm chăm chụp ảnh sống ảo, rất chịu quan sát và khám phá. Khu chợ này có hai dãy hàng quán song song được dựng tạm bợ trên nền đất bụi bặm. Như nhiều khu chợ của lễ hội khác, ở đây bán đồ ăn vặt như kẹo bánh, xúc xích nướng, kem, một số loại bánh rán tại chỗ, ... và các quầy trò chơi, mình không hiểu lắm về cách chơi, thấy có những khối lập phương bằng gỗ to như trái banh, được cho lăn xuống tấm bảng gỗ kê chếch, có vẻ liên quan đến cá cược. Mình giơ máy ảnh lên chụp thì chủ quán ra hiệu không chụp ảnh, cơ mà mình cũng kịp chụp vài ba kiểu rồi.

Rời chợ, tụi mình tiến thẳng tới chùa và suýt xỉu khi nhìn thấy bậc thang cao ngất dẫn lên chùa trên đỉnh đồi, thiệt ra không phải cao lắm nhưng vừa cuốc bộ mấy cây số nên hơi oải. Hai đứa ngồi ở một lán nghỉ dưới chân đồi trước khi leo lên chùa. Trong lán nhiều người dân đang tụ tập chuyện trò, tụi mình ngại nên chỉ dám ngồi ở bậc tam cấp. Thấy hai đứa ngồi nắng tội quá, một cô vỗ vai mình chỉ ngồi vào phía trong cho mát. Phía trước lán là khu đậu xe lam, mỗi khi có xe tới, từng đoàn người tràn xuống xe, nô nức xúng xính trong trang phục truyền thống sặc sỡ. Nhìn mọi người háo hức quá, mình và Andrien cũng đi theo lên chùa luôn.

Bậc thang lên chùa là đất đồi xẻ thành, được cố định chống sạt bởi những tấm ván và cọc gỗ. Nhiều bậc khá nhỏ và trơn trượt, nhưng tụi trẻ con cứ chạy nhảy như bay, mình với Andrien thì dò dẫm như hai cụ già vì sợ ngã. Lúc đi lên, mình gặp một cô đi xuống, cô đưa mình một túi Lahpet Thoke (salad lá trà trộn hạt đậu rang) - một món ăn vặt truyền thống của Myanmar. Mình bất ngờ và vui quá đỗi, chỉ biết cười toe cảm ơn rối rít.

Lên đến đỉnh đồi, người đông như nêm tạo thành một khung hình nhộn nhịp đầy sắc màu. Có vài người đứng thành hàng bưng khay đựng các cốc nước màu xanh như nước mía, nhưng vị giống nước đường thôi, mình không nhận ra thêm vị gì khác. Những cốc nước này được phát miễn phí, cứ thấy ai chưa có nước là các cô, các bạn ấy chủ động tiến đến đưa nước liền, hai đứa mình uống xong và trả lại cốc, người khác thấy tay không lại đưa nước tiếp, không thể từ chối nên hai đứa quyết định lần này sẽ không uống hết ngay mà để lại một chút cho tay đỡ trống vắng. Tụi mình len vào trong thì thấy chú đã đứng đấy từ bao giờ. Chú nói hai đứa nên vào tu viện trước, ở đó được ăn trưa miễn phí, sau đó lên chùa chơi. Andrien e dè hỏi "tụi con cũng được ăn trưa ở đây ạ?". "Dĩ nhiên rồi, ai cũng được hết" - chú nói. Vậy chứ hai đứa mình vẫn hơi ngại vì hình như tụi mình là hai người nước ngoài duy nhất ở đây.

Andrien và mình vào tu viện, tần ngần đứng ở cửa, liền có một bác gái ngồi sát cửa kéo tay mình lại ngồi sát bên. Bác ra hiệu cho người đem trà và đồ ăn tới cho tụi mình, nào kẹo bánh, cam, dưa hấu, Lahpet Thoke, ăn hết lại được tiếp thêm. Bác ấy không biết tiếng Anh, còn tụi mình hiển nhiên không biết tiếng Palaung, vậy mà hai bên cứ giao lưu như hiểu nhau lắm. Lúc này mình thấy bình đẳng với Andrien ghê, bất đồng ngôn ngữ đôi khi cũng không tệ, có thể khiến chúng ta khám phá nơi nào đó, thậm chí là khám phá chính bản thân mình theo những cách cực kỳ hay ho, thú vị.

Mình ít khi chụp ảnh người dân lắm vì ngại làm phiền họ, nếu có thì chụp từ xa hoặc chụp lén, vì nếu xin phép trước thì ảnh không được thời sự và tự nhiên nữa. Nhưng lúc này mình muốn lưu giữ hình ảnh bác gái nên đã gắng bấm máy chụp ăn liền thật lẹ, không ngờ lại vừa hay lúc bác nhìn vào ống kính, mình cho bác xem ảnh thì mặt bác xìu xuống ý là ảnh không đẹp lắm. Mình liền chụp lại, và để bác có thời gian chuẩn bị, lần này xem ảnh bác cười vui hẳn, còn đưa ngón tay cái lên tỏ ý hài lòng lắm. Ngay đó là khu chuẩn bị đồ ăn, những nồi thức ăn đã nấu chín đang được chia thành các phần ăn. Bác gái dặn dò một anh thu xếp bàn ăn cho hai đứa mình. Anh ấy đưa tụi mình tới bàn ăn, còn bác gái ăn sau vì còn đang bận tiếp khách và chỉ đạo. Andrien và mình ăn chung bàn với hai anh chị nữa, chị xới cơm còn anh mê mải gắp thức ăn cho tụi mình, vừa gắp vừa nhiệt tình thuyết minh bằng vốn tiếng Anh ít ỏi, đây là pork, kia là chicken, ... Bàn ăn là chiếc bàn nhựa tròn trải tấm vải màu tím hoa cà, kiểu bàn thấp để ngồi bệt. 

Đầu bữa ăn, một sư thầy mà mình đoán là người có địa vị cao trong chùa đi tới từng bàn ăn, trò chuyện với mọi người, và có lẽ là ban phước nữa, mình đoán vậy. Thầy tới bàn mình, thấy hai anh chị buông đũa, chắp tay kính cẩn, mình và Andrien cũng bắt chước chắp tay theo, hướng mắt về phía thầy, làm bộ lắng nghe chăm chú lắm nhưng không hiểu chữ nào. Hai anh chị ăn nhanh lắm, chắc còn nhiều việc phải làm, ăn xong vẫn thấy chạy đi chạy lại luôn chân luôn tay, mỗi lúc qua bàn tụi mình đều không quên ra hiệu hai đứa cứ ăn bình tĩnh, ăn nhiều vào. Lúc này chỉ còn hai đứa mình trước bàn ăn hầu như còn nguyên, Andrien phải thốt lên "nhiều đồ ăn quá ha", thì bàn nào cũng có sáu người lận mà, mỗi bàn mình ít người. Các món ăn bữa trưa hôm đó cũng giống như đồ ăn Myanmar nói chung, tức cay, mặn và không có rau xanh. Bữa ăn có tới mấy món từ thịt lợn lận, thịt lợn kho, canh móng giò, rồi thịt gà kho, đậu phụ sốt cà chua, phồng tôm chiên giòn, ... Phần lớn dân số Myanmar là tín đồ Phật giáo Tiểu thừa, và cư dân vùng Shan cũng vậy, họ ăn thịt gà, thịt lợn, không ăn thịt bò. Suốt những ngày ở Myanmar, mình ăn ở các quán ăn Myanmar và Trung Quốc thì đúng là không khi nào thấy thịt bò trong thực đơn.

Ăn trưa xong, tụi mình rời tu viện để lên chùa. Cái nắng gay gắt của buổi trưa không hề khiến không khí của lễ hội chùng xuống chút nào. Mọi người vẫn say mê nhảy múa trong giai điệu vừa vui tươi vừa pha âm hưởng dân gian của đội chơi nhạc sống. Ngoài một nhạc cụ na ná cồng chiêng, còn lại đều rất mới lạ với mình. Một số nhạc cụ khá cồng kềnh, nhưng có vẻ như ai cũng biết chơi, xíu xíu mọi người lại thay ca cho nhau. Trên sân chùa không có mái che, nhưng người ta vẫn ngồi thư thái, quây quần quanh vài đĩa đồ ăn vặt và xì gà, trò chuyện và tận hưởng một trong những lễ hội quan trọng nhất trong năm.

Một chút về lễ hội này, đây là thông tin mình tìm kiếm được trên mạng chứ host cũng không biết gì nhiều. Lễ hội có tên Magha Puja hay Tabaung full moon festival, là lễ hội Phật giáo quan trọng của Myanmar, được tổ chức vào kì trăng tròn của tháng cuối cùng trong năm (tháng Tabaung) theo lịch Myanmar (thường là tháng Ba dương lịch). Ngày trăng tròn Tabaung năm nay là 08/03/2020. Vào dịp này, các tín đồ Phật tử đến chùa làm công đức và bày tỏ sự tôn kính với Đức Phật và những lời dạy của ngài vào ngày trăng tròn.

Quá trưa, tụi mình quyết định về Camp. Trong lúc len lỏi qua đoàn người trên sân chùa, bác gái trong tu viện khi nãy, lúc này đang ngồi với các bác gái khác trên sân, giơ cao tay vẫy tụi mình, rủ lại chỗ bác ấy chơi. Vì đông người quá và muốn về luôn, tụi mình chỉ vẫy tay chào chứ không tới chỗ bác nữa. Lần sau quay trở lại Kalaw, mình nhất định sẽ tới làng Palaung tìm bác.

Đường về cũng mệt y như lúc đi, nắng còn gắt hơn nữa, may mà không xiên vào mặt. Chú nói là nếu mệt, tụi mình có thể đi nhờ xe của người dân, nhưng nhìn chiếc xe nào cũng chật kín người rồi nên tụi mình đi bộ thôi. Trên đường có một vài ngã rẽ, tới đâu Andrien cũng hỏi mình xem rẽ lối nào ấy nhỉ. Trời ạ, mình đã là một đứa dở ẹc trong xác định phương hướng mà cậu ấy còn phải hỏi nữa. Kể cả xem bản đồ mình cũng vẫn hay đi lạc, nhưng được cái là mình rất nhớ các chi tiết nhỏ trên đường đi, như cái cây to, khóm tre ngà, hay lán nhỏ bên đường ... Sau mỗi ngã rẽ, Andrien lại băn khoăn hỏi mình "nãy có đi qua chỗ này không ấy nhỉ", "có, chị nhớ mà", "may quá vì em không nhớ gì cả". Tới quán tạp hoá tụi mình lại rẽ vào nghỉ mệt, lúc này hai đứa đã mặt đỏ tía tai. Andrien mua một chai nước ngọt có gas và uống hết trong nháy mắt. Còn mình chỉ trung thành với nước lọc, mình là con người yếu kém không uống được nước lạnh hay nước có gas.

Về gần tới Camp, mình gặp chú đi xe máy theo hướng ngược lại. Chú hỏi "con có quen ai tên Alex không?". Mình thoáng ngạc nhiên, Alex nào nhỉ, có quen ai đâu. Rồi chú nói "vừa có một người tên Alex gọi điện cho chú hỏi về con, nói là gia đình không liên lạc được với con mấy ngày nay nên rất lo lắng". À à Alex là bạn của bạn mình, đột nhiên không nghĩ ra, mình tưởng Alex nào đó ở Myanmar. Mình không lường trước được là không có internet nên chưa báo với mẹ mình, may là lúc đặt phòng xong, mình đã gửi thông tin của Camp Kalaw cho bạn mình. Chú đã nói với Alex rằng mình ổn, tối nay về thị trấn mình sẽ liên lạc với mọi người. Mẹ mình chắc lo lắng lắm, vì có đứa con gái ngu ngơ nhưng liều lĩnh, ương ngạnh và vô ý.

Tụi mình về đến Camp lúc ba giờ chiều. Mình về phòng thu dọn hành lý, cũng không có gì nhiều. Lúc sau Andrien qua phòng rủ mình lên tầng hai chơi. Andrien lúc này vừa tắm gội xong, mặc một chiếc áo phông trắng kẻ xanh ngang như thuỷ thủ, quần sooc, nom sáng sủa hơn hẳn lúc nãy mặt đỏ gay và quần áo lấm lem bụi đường. Hôm nay Andrien vẫn đọc sách, nhưng ngồi ở ghế sát tấm vách, bên cạnh mình. Mình đang phân vân về chuyện hỏi thông tin liên lạc của Andrien. Trong suốt chuyến đi này, mình đã gặp được nhiều người thú vị, nhưng hiếm khi trao đổi thông tin liên lạc. Mình muốn nghĩ về những người bạn ấy như những kỉ niệm tươi đẹp, mình sợ sự nhạt phai, sợ add friend rồi chẳng mấy khi trò chuyện, một nỗi sợ dở hơi phải không? Cơ mà cuối cùng thì mình vẫn hỏi Andrien, vì mình muốn gửi mấy tấm ảnh cho cậu ấy.

Để kịp chuyến xe về Yangon tối nay, mình xuống bếp chuẩn bị bữa tối sớm. Nhưng có vẻ vẫn còn sớm quá, chú bảo chưa nấu vội, hai chú cháu ngồi trò chuyện chút. Mình bày tỏ rằng rất muốn dựng được ngôi nhà tre như của chú, chú bèn bảo "chú sẽ giúp con, khi nào định dựng nhà thì nói chú, chú sẽ sang Việt Nam giúp con, ... Khi nào tới Yangon, nếu có chuyện gì thì cứ gọi chú, gia đình chú đang sống ở đó". Mình đã đem theo ví để gửi tiền phòng cho chú thì chú đưa mình cuốn sổ kê chi phí của TNV tại Camp Kalaw. Chú nói không coi mình là khách nên sẽ charge mình như TNV, tức là chỉ thu tiền ăn và một số thứ như nước đóng chai, giấy vệ sinh, không thu tiền phòng. Mỗi bữa ăn 2,5USD, là mức thu bằng nhau giữa khách và TNV. Mình tính quy đổi sang tiền Myanmar và làm tròn tổng số tiền thành 20,000 kyat. Chú để mình tự kê chi phí chứ không kiểm tra lại, lúc mình đưa tiền còn nói "con còn đủ tiền tiêu không, nếu không thì chuyển khoản sau hoặc không cần trả nữa cũng được". Hở, đúng là chú vận hành Camp Kalaw vì đam mê mà, chứ như này thì lời lãi chi. Ngoài kê khai chi phí, các TNV đều ghi đôi dòng cảm nhận. Mình cũng ngồi trầm ngâm xem nên viết gì, thấy vậy chú nói "con không cần viết quá dài đâu, chỉ cần viết con có thích ở đây hay không là được". Dĩ nhiên là mình thích Camp Kalaw rồi, nhưng mình muốn bày tỏ nhiều hơn thế, mình muốn cảm ơn chú, Cindy, Andrien, và những người dân Palaung dễ mến đã khiến chuyến đi này trở nên thật đáng nhớ, thật ngọt ngào.

Hoàng hôn đang buông xuống, đã đến lúc nấu bữa tối. Sáng nay mình và Andrien đã chuẩn bị sẵn rau củ cho bữa trưa, để đi chơi về nấu cho nhanh, ai dè lại không ăn trưa nên giờ chỗ rau củ xắt sẵn đã héo cả. Mình muốn nhóm bếp, củi đã được chú xếp gọn ngay đó, mình định dùng lá khô ngay dưới chân làm mồi lửa nhưng tìm mãi không thấy bật lửa đâu. Thấy mình loay hoay, Andrien bèn bảo "chú nói sẽ nhóm lửa đó chi, chắc chú ra ngay thôi". Nãy mình cũng nghe thấy chú nói vậy, chỉ là mình muốn khiến chú bất ngờ thôi. Lúc sau chú ra và hướng dẫn hai đứa nhóm bếp, có điều chú không dùng lá khô mà dùng miếng cao su làm mồi lửa. Bữa nay ăn súp bí ngô, và vẫn là rau củ xào, salad như những bữa trước. Bữa tối này có thêm một thành viên nữa, là chú tài xế xe ôm sẽ đưa mình ra bến xe tối nay. Chú host đã liên hệ xe và chốt giá trước giúp mình, 5,000 kyat từ Camp tới bến xe Kalaw, chú còn nhờ chú tài xế tới bến xe mua vé giúp mình. Chú tài xế không biết tiếng Anh, chú hiền và thân thiện, khác hẳn tay tài xế mình gặp ở ga Kalaw hôm trước.

Giờ khắc chia tay đã đến, chú nói với mình "con hãy quay lại nhé" - câu nói tưởng như xã giao, nhưng mình tin chú rất chân thành. Còn mình vẫn chưa đủ dũng khí ôm tạm biệt chú và Andrien, chỉ vẫy tay và nghẹn ngào nói vội câu "hẹn gặp lại" trước khi xe lăn bánh.

Mình nhớ đến câu đọc được trên blog của bạn mình, câu mà bạn nhắn một chú cho bạn ấy đi nhờ xe tại Chile. 

“Cuando fui primera vez, no conoci' a nadie. Pero cuando vuelva, se' que tengo amigos aqui' po. Lần đầu cháu đi, cháu không quen ai cả. Nhưng một mai khi trở lại, cháu biết rằng mình đã có những người bạn nơi đây rồi.”  

Hãy đi, hãy trở lại. Đem theo một trái tim trần trụi, vô tư. Bớt kỳ vọng, bớt định kiến. Luôn giữ niềm tin vào những điều tốt đẹp phía trước, những ngọt ngào đến sau.
----
Mời các bạn đọc
 Nhật ký rong chơi Kalaw, Myanmar - Phần 1

Nhận xét